real estate menu left
real estate menu right

Thông tin người dùng

Đăng nhập



Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay91
mod_vvisit_counterHôm qua76
mod_vvisit_counterTuần này477
mod_vvisit_counterTháng này1022
mod_vvisit_counterTất cả53097

Thứ hạng của website


Thành viên Online

Hiện có 5 khách Trực tuyến
Thuyết Hiện sinh là một thuyết nhân bản [1] PDF. In Email

Jean-Paul Sartre

Đinh Hồng Phúc dịch

Ở đây chúng tôi muốn bảo vệ thuyết Hiện sinh chống lại vài điều trách cứ mà người ta đã nhắm vào nó.

Trước hết, người ta trách thuyết Hiện sinh là nó mời gọi mọi người trú ngụ trong một triết lý tịch tĩnh (quiétisme)[1] về sự tuyệt vọng. Trong khi tất cả các giải pháp đều bị khép lại, thì ta cần xét rằng sự hành động trong thế giới này là hoàn toàn không thể có, và cuối cùng là đi đến một thứ triết học trầm tư mặc tưởng, vả lại vì sự trầm tư mặc tưởng là một xa xỉ nên triết học này dẫn chúng ta đến với triết học tư sản. Đây trước hết là những lời trách của những người cộng sản.

 Từ phía khác, người ta trách chúng tôi là đã nhấn mạnh đến tình trạng ô nhục của con người, thấy đâu đâu cũng là sự ti tiện, ám muội và đê hèn, bỏ qua một vài vẻ đẹp rạng rỡ, cái khía cạnh tươi sáng của bản tính người ; chẳng hạn, theo cô Mercier, nhà phê bình Công giáo, là chúng tôi đã quên nụ cười của trẻ thơ. Từ cả hai phía, người ta trách chúng tôi đã thiếu mất sự liên đới của con người, xem con người trong sự cô lập, hơn nữa, theo lời những người cộng sản, phần lớn vì chúng tôi đi từ tính chủ thể thuần túy, nghĩa là đi từ cái tôi tư duy của Descartes[2], nghĩa là vẫn còn trong thời khắc (moment) con người tự đạt đến trong sự cô đơn của mình, cái thời khắc khiến chúng ta sau đó không thể quay trở lại với sự liên đới với những người đang tồn tại bên ngoài tôi và tôi không thể đạt đến trong cái cogito (cái Tôi tư duy - ND).

Và về phía Công giáo, người ta trách chúng tôi đã phủ nhận tính thực tại và sự nghiêm túc của những công việc của con người, vì nếu chúng tôi gạt bỏ những lời răn của Thượng đế và những giá trị được cho là vĩnh hằng, thì chẳng còn gì ngoài sự hoàn toàn tùy tiện (stricte gratuité): ai cũng có thể làm gì tùy thích, và không thể lấy quan điểm của mình mà kết án những quan điểm và những hành vi của người khác.

Chính những lời trách cứ khác nhau ấy mà hôm nay tôi tìm cách trả lời. Đấy cũng là lý do tại sao tôi đặt nhan đề cho bài trình bày nhỏ này là « Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản ». Có thể nhiều người ngạc nhiên về cái mà ở đây người ta gọi là « thuyết nhân bản ». Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày cho mọi người thấy cách hiểu của chúng tôi về thuyết này. Dù sao chúng tôi có thể nói ngay từ đầu rằng chúng tôi hiểu thuyết Hiện sinh là một học thuyết làm cho đời sống con người là có thể có được, và hơn nữa, là học thuyết tuyên bố rằng mọi chân lý và mọi hành động đều bao hàm một hoàn cảnh và một tính chủ thể người. Sự trách cứ chủ yếu người ta đổ lên chúng tôi mà ai cũng biết chính là việc quá nhấn mạnh đến khía cạnh xấu của đời sống con người. Gần đây người ta có kể với tôi về một bà nọ trong khi nóng giận đã buông lời dung tục rồi phân bua xin lỗi rằng : « Chắc tôi thành mụ hiện sinh mất rồi ». Do đó, người ta đánh đồng cái xấu xa với thuyết Hiện sinh. Đó là lý do tại sao người ta cho rằng chúng tôi là những kẻ tự nhiên chủ nghĩa ; và nếu thật như vậy, có thể người ta sẽ ngạc nhiên rằng chúng tôi gây khiếp sợ và gây tai tiếng nhiều hơn cả chủ nghĩa tự nhiên (naturalisme) theo đúng nghĩa của từ này mà hiện nay nó đang gây khiếp sợ và gây phẫn nộ. Người nào đó hoàn toàn chịu được một cuốn tiểu thuyết của Zola[3], cuốn La Terre chẳng hạn, nhưng lộn ruột lên ngay khi anh ta đọc một cuốn tiểu thuyết hiện sinh ; người nào đó sử dụng túi khôn người đời - một túi khôn khá tồi - thấy chúng tôi còn tồi hơn. Thế nhưng, còn gì bị vỡ mộng hơn khi nói rằng :  « Trước khi thương người phải thương mình đã » hay « Với tiểu nhân, biệt đãi thì nó lờn mặt, nghiêm đãi thì nó dễ bảo » ? Còn nhiều sáo ngữ nữa mà ai cũng biết có thể được dùng cho vấn đề này và chúng luôn nói lên cùng một điều rằng không được đấu tranh chống lại những quyền lực đã xác lập, không được đấu tranh chống lại vũ lực, không được làm những gì vượt quá thân phận của mình, mọi hành động không phù hợp với truyền thống đều là một sự lãng mạn, mọi toan tính không dựa vào một kinh nghiệm đã được chứng minh ắt phải thất bại; và kinh nghiệm cho thấy con người luôn hướng về cái thấp hèn, nên cần phải có những đoàn thể vững chãi (corps solides) để giữ họ lại, nếu không sẽ là tình trạng vô chính phủ. Tuy nhiên, có những người cứ lải nhải những cách ngôn buồn thảm ấy, có những người nói : « Con người là thế đấy !» mỗi khi người ta cho họ thấy một hành vi ít nhiều có tính ghê tởm, có những người nhai đi nhai lại những bài ca [theo phong cách] hiện thực chủ nghĩa, chính những người đó trách cứ thuyết Hiện sinh là quá rầu rĩ, đến mức tôi phải tự hỏi phải chăng họ trách móc thuyết này không phải về sự bi quan của nó mà đúng hơn về sự lạc quan của nó. Thực ra, có điều gây e sợ trong học thuyết mà tôi cố gắng trình bày với các bạn là phải chăng nó để cho con người một khả năng lựa chọn ? Để rõ điều này, chúng ta cần xét lại câu hỏi hoàn toàn trên bình diện triết học : « Thuyết Hiện sinh là gì ? »

Phần lớn những ai dùng từ này ắt sẽ rất bối rối khi biện minh cho nó, vì ngày nay nó đã trở thành một thứ thời thượng, nên người ta sẵn sàng tuyên bố rằng anh nhạc sĩ này hay anh họa sĩ nọ là một « nhà hiện sinh ». Một anh chuyên viết tin vặt cho tờ Clartés ký thêm « Nhà hiện sinh » ; và thực ra từ này ngày nay đã được dùng quá rộng rãi đến nỗi nó không còn biểu đạt được điều gì nữa cả. Có vẻ như vì thiếu học thuyết tiền phong (avant-garde) tương tự như thuyết Siêu thực (surréalisme), nên những người thích gây điều ong tiếng ve (scandale) hay thích tạo phong trào đều hướng tới triết học hiện sinh, hơn nữa, một triết học chẳng mang lại cho họ điều gì trong lĩnh vực này, thì trên thực tế nó chính là học thuyết ít tai tiếng nhất, chân chất nhất và chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn và các nhà triết học thôi. Tuy vậy, nó có thể được định nghĩa dễ dàng. Điều rắc rối là có hai loại các nhà hiện sinh : loại thứ nhất là các nhà hiện sinh Kitô giáo, và tôi liệt Jaspers[4] và Gabriel Marcel[5](cả hai đều tự nhận là người Công giáo) vào trong số đó ; loại thứ hai là các nhà hiện sinh vô thần, cần phải liệt Heidegge[6] và các nhà hiện sinh Pháp khác và chính tôi vào số này. Điểm chung giữa họ chỉ là ở chỗ họ cho rằng hiện hữu đi trước trước bản chất, hay nói cách khác, họ đi từ tính chủ thể (subjectivité). Cần phải hiểu điều đó như thế nào mới đúng ? Khi ta xét một vật phẩm, chẳng hạn như một cuốn sách hay một con dao rọc giấy, vật này được người thợ chế tạo theo gợi hứng của một khái niệm nào đó, và nó được quy chiếu đến khái niệm « dao rọc giấy », và cũng được quy chiếu như vậy đến một kỹ thuật sản xuất có sẵn, vốn là bộ phận của khái niệm và thực chất là một công thức chế tạo. Như vậy, dao rọc giấy vừa là một vật được sản xuất theo một phương cách nào đó vừa có một công dụng xác định, và không ai có thể cho rằng một người nào đó làm ra một con dao mà lại không biết con dao ấy dùng làm việc gì. Vì thế, chúng tôi sẽ nói rằng với con dao thì bản chất – tức là toàn bộ các công thức chế tạo và các thuộc tính cho phép làm ra nó và định nghĩa nó – có trước sự hiện hữu ; và như vậy, trước mặt tôi, sự hiện diện của một con dao nào đó hay một cuốn sách nào đó là được quy định. Vậy là chúng ta có một viễn quan kỹ thuật (vision technique) về thế giới, và trong viễn quan này ta có thể nói : « sản xuất đi trước sự hiện hữu ».

Khi chúng ta quan niệm Thượng đế là một đấng sáng tạo, thì trong một thời gian dài, vị Thượng đế này được đánh đồng với một người thợ siêu phàm ; và dù học thuyết mà chúng ta đang xét có là gì đi nữa, ngay cả một học thuyết như học thuyết của Descartes hay học thuyết của Leibniz[7], chúng ta luôn thừa nhận rằng ý chí (volonté) ít nhiều theo sau giác tính (entendement), hay ít ra là đi cùng với giác tính, và Thượng đế, khi sáng tạo ngài biết rõ những gì ngài đang sáng tạo. Như vậy, khái niệm « con người », trong tinh thần của Thượng đế, là có thể so sánh với khái niệm « dao rọc giấy » trong tinh thần của nhà công nghiệp ; và Thượng đế tạo ra con người dựa theo những kỹ thuật và một khái niệm hoàn toàn giống như người thợ chế tạo một con dao rọc giấy dựa theo một định nghĩa và một kỹ thuật. Như vậy, mỗi một cá nhân con người là sự hiện thực hóa của một khái niệm nào đó tồn tại trong giác tính thánh thần. Váo thế kỷ XVIII, trong thuyết vô thần (athéisme) của các triết gia, ý niệm Thượng đế bị gạt bỏ, nhưng không vì thế mà người ta gạt bỏ tư tưởng cho rằng bản chất có trước sự hiện hữu. Ý niệm này, đâu đâu chúng ta cũng gặp lại nó một ít : ở Diderot[8], ở Voltaire[9], và cả ở Kant[10]. Con người là kẻ sở hữu một bản tính người (nature humaine). Bản tính người này, một khái niệm của con người, được tìm thấy ở tất cả mọi con người. Điều này có nghĩa là mỗi một con người là một gương mẫu đặc thù của một khái niệm phổ quát : « con người » ; ở Kant, ông rút từ tính phổ quát ấy ra rằng người rừng, người nguyên thủy, cũng như người tư sản đều được gộp vào cùng một khái niệm và có cùng những tính chất căn bản. Như vậy, lại một lần nữa, bản chất của con người có trước sự hiện hữu có tính lịch sử ấy mà chúng ta sẽ gặp lại trong tự nhiên.

Thuyết Hiện sinh vô thần, mà tôi đại diện, có tính nhất quán hơn. Nó tuyên bố rằng nếu Thượng đế không hiện hữu, thì ít ra có một tồn tại (un être) mà ở nó sự hiện hữu đi trước bản chất, một tồn tại hiện hữu trước khi có thể được định nghĩa bằng một khái niệm bất kỳ nào, và tuyên bố rằng tồn tại ấy chính là « con người », hay nói như Heidegger là « thực tại-người » (réalité-humaine). Ở đây, « sự hiện hữu đi trước bản chất » có nghĩa là gì ? Câu này có nghĩa là trước tiên con người phải hiện hữu, gặp gỡ, xuất hiện trong thế giới, rồi sau đó mới được định nghĩa. Con người, theo quan niệm của người hiện sinh, nếu không thể định nghĩa được, chính là vì trước hết nó không hề tồn tại. Nó chỉ tồn tại sau đó, và sẽ tồn tại như những gì nó sẽ được làm ra. Như vậy, không có bản tính người, vì không có Thượng đế để nghĩ ra bản tính ấy. Con người không chỉ tồn tại như nó được quan niệm, mà còn tồn tại như nó muốn tỏ ra ; và vì nó được quan niệm sau khi có sự hiện hữu, và vì nó muốn tỏ ra sau khi có cái đà ấy hướng tới sự hiện hữu, nên con người không là gì khác ngoài những gì mà nó tự làm ra. Đó là nguyên lý đầu tiên của thuyết Hiện sinh. Đó cũng là điều mà người ta gọi là  tính chủ thể, và người ta vin vào danh từ ấy để trách cứ chúng tôi. Nhưng qua đó chúng tôi muốn nói gì nếu không phải là việc con người có một phẩm giá cao hơn hòn đá hay cái bàn ? Vì chúng tôi muốn nói rằng trước tiên con người phải hiện hữu, tức là nói rằng trước tiên con người phải là kẻ tự ném mình vào một tương lai, và phải là kẻ ý thức về việc tự dự phóng vào tương lai. Con người trước hết là một dự phóng đang được sống về mặt chủ thể, thay vì là một thứ rêu, là một thứ nấm mốc hay một búp súp-lơ ; không có gì hiện hữu một cách có sẵn cho sự dự phóng ấy, không có gì tồn tại nơi thiên đường khả niệm (ciel inteligible), và con người trước hết sẽ là những gì mà nó dự định tồn tại. Không phải những gì nó muốn tồn tại. Vì thông thường chúng ta hiểu « muốn » là một quyết định có ý thức, và đối với phần đông trong số chúng ta, quyết định ấy là đi sau những gì mà con người đã tự làm nên chính mình. Tôi có thể muốn gia nhập một đảng phái, viết một cuốn sách, lập gia đình, tất cả đó chỉ là sự biểu hiện của một lựa chọn nguyên thủy hơn, tự khởi hơn những gì mà người ta gọi là ý chí. Nhưng nếu đúng là sự hiện hữu đi trước bản chất, thì con người chịu trách nhiệm về những gì nó đang tồn tại. Như vậy, bước đi đầu tiên của thuyết Hiện sinh là đặt mọi người vào việc chiếm hữu những gì mình đang tồn tại, và đặt lên con người toàn bộ trách nhiệm về sự hiện hữu của mình. Và khi chúng tôi nói rằng con người chịu trách nhiệm về chính mình, chúng tôi không muốn nói rằng con người chịu trách nhiệm về cái cá nhân chật hẹp của mình, mà muốn nói rằng con người chịu trách nhiệm cho tất cả mọi người. Từ « chủ thể luận » (subjectivisme) có hai nghĩa, và những người người công kích chúng tôi chơi trên cả hai nghĩa này. Nghĩa thứ nhất, nó muốn nói đến sự lựa chọn của bản thân chủ thể cá nhân ; nghĩa thứ hai, nó muốn nói đến tính bất khả của con người về việc vượt qua tính chủ thể người. Chính nghĩa thứ hai là nghĩa sâu xa của thuyết Hiện sinh. Khi chúng tôi nói rằng con người tự chọn lựa, thì chúng tôi hiểu rằng mỗi một người trong số chúng ta tự lựa chọn, nhưng qua đó, chúng tôi cũng muốn nói rằng trong khi tự lựa chọn anh ta lựa chọn tất cả mọi người. Thực vậy, không một hành vi nào trong các hành vi chúng ta khi sáng tạo nên con người mà chúng ta muốn tồn tại mà lại không đồng thời tạo ra một hình ảnh về con người như chúng ta cho là nó phải tồn tại. Lựa chọn tồn tại này hay tồn tại khác chính là khẳng định cùng một lúc giá trị của những gì mà chúng ta lựa chọn, vì chúng ta không thể nào chọn cái xấu hơn (le mal) ; những gì mà chúng ta lựa chọn, đó luôn là cái tốt hơn (le bien), và không có cái gì có thể là tốt (bon) đối với chúng ta mà không là tốt đối với mọi người. Hơn nữa, nếu sự hiện hữu đi trước bản chất và nếu chúng ta muốn hiện hữu cùng một lúc với việc chúng ta nhào nặn nên hình ảnh của mình, hình ảnh ấy là có giá trị đối với tất cả mọi người và đối với toàn bộ thời đại của chúng ta. Như vậy, trách nhiệm của chúng ta lớn lao hơn nhiều so với những gì mà chúng ta có thể tưởng đến, vì nó liên quan đến toàn thể nhân loại. Nếu tôi là người công nhân, và nếu tôi quyết định gia nhập một nghiệp đoàn Kitô giáo chứ không phải là người cộng sản, nếu qua sự gia nhập này, tôi muốn chỉ ra rằng thực chất sự cam chịu là giải pháp phù hợp với con người, và vương quốc của con người không phải ở trên mặt đất, thì tôi không chỉ vận vào trường hợp của mình : tôi muốn được cam chịu cho mọi người, do đó bước đi của tôi đã dấn mình vào toàn thể nhân loại. Và nếu, xét một cách cá nhân hơn, tôi muốn lập gia đình, có con cái, thậm chí nếu cuộc hôn nhân ấy chỉ tùy thuộc vào hoàn cảnh của tôi, hay vào đam mê của tôi, hay vào sự ham muốn của tôi, qua đó tôi không chỉ cam kết với chính mình mà còn cam kết với toàn thể nhân loại trên con đường của chế độ một vợ một chồng. Như vậy, tôi chịu trách nhiệm với chính mình và với mọi người, và tôi đã sáng tạo ra một hình ảnh nào đó về con người mà tôi đã lựa chọn ; khi chọn lấy chính tôi, tôi chọn con người.

Điều này cho phép chúng ta hiểu những gì mà các từ che đậy hơi chút khoa trương như : lo âu (angoisse), bỏ rơi (délaissement), tuyệt vọng (désespoir). Rồi các bạn sẽ thấy, nó cực kỳ giản dị. Trước hết, ta hiểu thế nào về sự lo âu ? Người hiện sinh sẵn sàng tuyên bố rằng con người là sự lo âu. Điều này có nghĩa thế này : con người dấn mình vào và nhận ra rằng nó không chỉ là kẻ mà nó đã chọn để tồn tại, mà đồng thời nó còn là một kẻ lập luật đang lựa chọn cho toàn thể nhân loại, nó không thể thoát khỏi cái cảm thức về trách nhiệm toàn diện và sâu xa của mình. Hẳn là có nhiều người không tỏ ra lo âu nhưng chúng tôi khẳng định là họ che đậy sự lo âu của họ, họ trốn tránh nó. Chắc chắn nhiều người tin rằng trong lúc hành động chỉ có họ mới dấn thân thôi, và một khi ta nói với họ rằng : « Nhưng nếu mọi người cũng làm như vậy thì sao ? ». Họ nhún vai đáp : « Chẳng ai làm thế đâu ». Nhưng thực ra, ta phải luôn tự hỏi : « Điều gì sẽ xảy ra nếu mọi người đều làm như vậy ? » Và ta chỉ có thể thoát khỏi cái ý nghĩ không yên ấy bằng một thứ ngụy tín (mauvaise foi). Người nói dối rồi tự lấp liếm, bằng cách nói rằng : « mọi người không làm thế đâu », là một người đang cắn rứt lương tâm mình, vì hành vi nói dối bao hàm một giá trị phổ biến được gán cho lời nói dối. Ngay khi giá trị ấy bị che giấu thì sự lo âu xuất hiện. Đây là sự lo âu mà Kierkegaard gọi là « nỗi lo âu của Abraham ». Chắc các bạn đều biết câu chuyện này. Một thiên sứ đã lệnh cho Abraham phải hy sinh đứa con trai của ông : mọi sự sẽ tốt đẹp nếu đó đích thực là thiên sứ, người đã đến và nói : « Ngươi là Abraham, ngươi sẽ hy sinh đứa con trai của ngươi ». Nhưng bất cứ ai [trong trường hợp ấy] cũng có thể tự hỏi trước hết : « Đó có thật là vị thiên sứ không ? » và tiếp theo « Tôi có thậf là Abraham không ? » « Ai sẽ chứng thực cho tôi điều này ? ». Một người đàn bà điên nọ, đã trải qua những ảo giác, nói rằng người ta đã gọi điện cho bà và ra lệnh cho bà. Bác sĩ điều trị hỏi bà : « Mà ai đã nói với bà ? ». Bà đáp : « Ông ta nói đó là Thượng đế » Và cái gì có thể chứng thực cho bà ta đó là Thượng đế ? Nếu có một vị thiên sứ đến với tôi, thì cái gì chứng thực đó là một vị thiên sứ ? Và nếu tôi nghe thấy những tiếng nói, thì ai chứng thực được những tiếng nói ấy đến từ thiên đường chứ không phải từ địa ngục, từ một tiềm thức hay từ một trạng trái bệnh lý ? Ai chứng thực rằng chúng được truyền gửi đến tôi ? Ai chứng thực rằng tôi đã được chỉ định để áp đặt quan niệm của tôi về con người và sự lựa chọn của tôi cho nhân loại ? Tôi sẽ không bao giờ tìm thấy được bất kỳ chứng cứ hay dấu hiệu nào để thuyết phục tôi về điều ấy cả. Nếu một tiếng nói được truyền gửi đến tôi, thì luôn luôn chính tôi sẽ là người quyết định rằng tiếng nói ấy là tiếng nói của thiên sứ, nếu tôi xét thấy rằng hành vi nào đó là tốt, thì chính tôi sẽ là người quyết định nói rằng hành vi ấy là tốt chứ không phải là xấu. Không có gì cho thấy tôi là Abraham, và tuy vậy tôi luôn buộc phải thực hiện những hành vi gương mẫu.

Đối với mọi người, mọi sự diễn ra như thể toàn thể nhân loại đang hướng mắt vào những gì mình đang làm và đang noi theo những gì mình đang làm. Và mỗi người sẽ phải tự nhủ rằng « Tôi có thực là người có quyền hành động đến nỗi nhân loại phải noi theo những hành vi của tôi không ? Và nếu người nào không tự nhủ điều này thì đó là anh ta đang che giấu sự lo âu. Rõ ràng đấy không phải là một sự âu lo đưa đến thuyết tịch tĩnh, hay đến sự không hành động. Đấy chỉ là một sự lo âu đơn thuần, mà tất cả những ai có trách nhiệm đều biết. Chẳng hạn, khi một vị chỉ huy quân sự chịu trách nhiệm về một cuộc tấn công và đẩy một số người nào đó đến chỗ chết, ông quyết định làm điều đó, và thực chất chỉ có mình ông là người lựa chọn thôi. Chắc chắn có những lệnh do cấp trên ban xuống, nhưng những lệnh kia là quá chung chung nên đòi hỏi ông phải giải thích, và sự giải thích này phụ thuộc vào sự sống của mười, mười bốn hay hai mươi con người. Trong khi đưa ra quyết định, ông không thể không có một sự lo âu nào đó. Tất cả các vị chỉ huy đều biến đến sự lo âu này. Điều đó không ngăn trở họ hành động, trái lại, đó chính là điều kiện cho hành động của họ, vì nó giả định rằng họ đối mặt với nhiều khả năng nhưng họ chỉ chọn một trong các khả năng đó, họ nhận thấy rằng khả năng ấy có giá trị chỉ vì nó được chọn. Và thứ lo âu ấy – cái tâm trạng mà thuyết Hiện sinh mô tả – mà hơn nữa chúng ta sẽ thấy nó còn được lý giải bằng một trách nhiệm trực tiếp mặt-đối-mặt với những người khác mà nó cam kết. Sự lo âu không phải là một tấm màn tách chúng ta ra khỏi hành động, mà nó là một phần của chính hành động.

Và khi ta nói về « sự bỏ rơi », từ diễn tả ưa thích của Heidegger, thì chúng tôi chỉ muốn nói rằng Thượng đế không hiện hữu, và điều cần thiết là từ đó ta phải rút ra cho hết những hệ quả. Người hiện sinh rất đối lập với một kiểu đạo đức thế tục nào đó muốn loại bỏ Thượng đế với cái giá rẻ nhất có thể có. Vào năm 1880, khi một số giáo sư Pháp cố gắng xây dựng một nền đạo đức thế tục, họ nói đại khái thế này : Thượng đế là một giả thuyết vô ích và tai hại, chúng ta hãy loại bỏ nó. Tuy nhiên, để có một nền đạo đức, một xã hội, một thế giới văn minh thì điều cần thiết là một số giá trị nào đó được coi là quan trọng và hiện hữu một cách tiên nghiệm ; cần phải bắt buộc một cách tiên nghiệm những điều như :trung thực, không nói dối, không được đánh vợ, phải sinh con, v.v.. Do đó, chúng tôi sẽ làm một việc nhỏ cho phép nói lên rằng các giá trị ấy dẫu sao cũng đã hiện hữu, và tạc ghi trong một thiên đường khả niệm, mặc dù Thượng không hiện hữu. Nói cách khác, – và tôi tin rằng đó là khuynh hướng của tất cả những gì mà ở Pháp người ta gọi là chủ nghĩa cấp tiến (radicalisme) – sẽ không có gì được thay đổi nếu Thượng đế không hiện hữu ; chúng ta sẽ gặp lại những chuẩn mực như nhau : trung thực, tiến bộ, nhân bản, và chúng tôi sẽ coi Thượng đế là một giả thuyết lỗi thời và bản thân nó sẽ âm thầm chết đi. Trái lại, người hiện sinh nghĩ rằng điều rất khó xử là Thượng đế không hiện hữu, vì mọi khả năng tìm thấy các giá trị trong thiên đường khả niệm sẽ mất đi cùng với Ngài ; không còn có bất cứ cái thiện tiên nghiệm nào nơi thiên đường ấy nữa, vì không có ý thức vô hạn và hoàn hảo nào để suy tưởng về nó ; không ở đâu nó được viết rằng : « cái thiện đang hiện hữu », « cần phải trung thực », « không được nói dối », vì rõ ràng chúng ta đang tồn tại trên một bình diện chỉ có những con người. Dostoïevsky[11]nói : « Nếu Thượng đế không hiện hữu, mọi sự đều được phép. » Đấy chính là điểm xuất phát của thuyết Hiện sinh. Thực vậy, mọi sự đều được phép nếu Thượng đế không hiện hữu, và do đó, con người bị bỏ rơi, vì con người không tìm thấy ở trong nó cũng như ở ngoài nó một khả năng nào để bám lấy. Trước hết con người không tìm thấy sự bào chữa nào. Nếu quả thật là sự hiện hữu đi trước bản chất, thì ta sẽ không bao giờ có thể giải thích bằng cách quy chiếu đến một bản tính người bị đông cứng đã cho nào ; nói cách khác, không có thuyết tất định, con người là tự do, con người được tự do. Mặt khác, nếu Thượng đế không hiện hữu, chúng ta sẽ không tìm thấy trước mặt mình những giá trị và những mệnh lệnh khiến cho hành vi của chúng ta được chính đáng. Như vậy, phía sau chúng ta cũng như phía trước chúng ta, trong miền ánh sáng của các giá trị, chúng ta không có những biện minh hay những bào chữa. Chúng ta chỉ một mình, không có sự bào chữa. Đó là những gì tôi thể hiện bằng cách nói rằng con người bị buộc phải tự do. « Bị buộc phải », bởi vì con người không tự tạo nên chính mình, nhưng mặt khác, « tự do » bởi vì một khi bị quăng ném vào thế giới, con người chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình làm. Người hiện sinh không tin vào sức mạnh của đam mê, và không bao giờ nghĩ rằng một đam mê mãnh liệt là một dòng thác cuộn phá dẫn con người đến những hành vi nào đó như một tiền định, và do đó là một sự bào chữa [cho những hành vi của mình]. Người hiện sinh cho rằng con người chịu trách nhiệm về sự đam mê của mình.

 Người hiện sinh cũng sẽ không nghĩ rằng con người có thể tìm thấy một sự cứu giúp trong một cung mệnh (signe) cho sẵn, trên mặt đất, sẽ định hướng họ ; vì họ nghĩ rằng con người tự giải mã cung mệnh theo ý thích của mình. Do đó, họ nghĩ rằng con người, không có bất kỳ điểm tựa hay sự giúp đỡ nào, luôn buộc phải phát minh ra con người. Trong một bài viết rất hay, Ponge [12]nói : « Con người là tương lai của con người. » Câu nói ấy hoàn toàn chính xác. Song, nếu người ta hiểu câu đó là tương lai ấy được ký thác nơi thiên đường, và Thượng đế nhìn thấy tương lai ấy, thì đó là sai lầm, vì sẽ chẳng còn một tương lai nào nữa cả. Nếu ta hiểu rằng bất kể con người xuất hiện ra như thế nào, thì nó vẫn có một tương lai để thực hiện, một tương lai còn vẹn nguyên đang chờ đón nó, thế nên từ này là đúng. Nhưng khi đó, con người bị bỏ rơi. Để đưa ra cho các bạn một ví dụ cho phép hiểu rõ hơn tình trạng bị bỏ rơi, tôi sẽ dẫn trường hợp của một trong số các sinh viên của tôi. Anh đến gặp tôi trong những tình huống như sau : cha anh gây bất hòa với mẹ anh, và hơn nữa ông lại có xu hướng hợp tác với quân Đức, anh trai thì bị sát hại trong cuộc tấn công của quân Đức vào năm 1940, và người thanh niên này, với những tình cảm có phần chất phác nhưng hào hiệp, muốn trả thù cho anh trai. Mẹ anh chỉ sống với anh, rất đau khổ vì cha của anh đã nửa chừng bội bạc và vì cái chết của anh trai của anh, và chỉ còn anh là nguồn an ủi. Vào lúc ấy, người thanh niên này phải lựa chọn giữa hai con đường : hoặc là sang nước Anh để gia nhập Lực lượng Pháp Tự do (tức là bỏ rơi mẹ anh) hoặc ở lại với mẹ, giúp mẹ sống. Anh cũng ý thức rõ rằng mẹ chỉ sống vì anh và sự biến mất của anh – có thể là cái chết của anh – sẽ làm bà đắm sâu trong tuyệt vọng. Anh cũng hiểu rằng, một cách cụ thể và thực tế, mỗi hành vi mà anh làm đối với mẹ mình đều có sự đảm bảo của nó, theo nghĩa này là anh giúp bà sống, trong khi mỗi hành vi mà anh làm để lên đường chiến đấu là một hành vi mơ hồ có thể công cốc như dã tràng xe cát, chẳng đi đến đâu : chẳng hạn, trên đường sang Anh, khi đi ngang qua Tây Ban Nha, anh có thể bị tống giam vô thời hạn trong một trại giam ở đấy ; có thể anh đến được Anh hay Alger và được sung vào văn phòng làm công việc giấy tờ. Do đó, anh nhận thấy trước mắt hai kiểu hành động rất khác nhau : một loại có tính chất cụ thể, trực tiếp, nhưng chỉ nhắm đến một cá nhân ; hay một hành động nhắm đến một tập thể vô cùng rộng lớn là quốc gia, nhưng lại mơ hồ và có thể bị đứt gánh giữa đường. Và đồng thời, anh do dự giữa hai kiểu đạo đức. Mặt này là đạo đức của sự cảm thông, tận tụy có tính cá nhân ; và mặt kia là đạo đức rộng lớn hơn, nhưng tính hiệu lực của nó có thể còn nhiều tranh cãi. Anh phải lựa chọn giữa hai điều này. Cái gì có thể giúp anh chọn lựa ? Học thuyết Công giáo chăng ? Không phải. Học thuyết Công giáo nói rằng : « Anh hãy nhân ái, hãy yêu thương đồng loại, hãy hy sinh vì người khác, hãy chọn con đường gian khó nhất, v.v.. và v.v.. » Nhưng con đường gian khó nhất là con đường nào ? Ai là người ta phải yêu thương như người anh em : chiến sĩ hay mẹ già ? Cái gì là lợi ích lớn nhất ? Cái lợi ích mơ hồ của việc chiến đấu trong một tập thể lớn hay cái lợi ích cụ thể của việc giúp một cá thể nhất định sống ? Ai có thể kết luận về điều đó một cách tiên nghiệm ? Không ai cả. Không một đạo đức học thành văn nào có thể nói đến điều này. Đạo đức học của Kant nói : « Anh tuyệt đối không được đối xử với những người khác như là phương tiện mà phải đối xử với họ như là mục đích ». Rất hay ! Nếu tôi ở bên cạnh mẹ, tôi sẽ đối xử với mẹ như là mục đích chứ không phải như là phương tiện, mà vì thế, tôi đang có nguy cơ đối xử như là phương tiện những ai chiến đấu quanh tôi ; và ngược lại, nếu tôi quay trở lại với những người đang chiến đấu, tôi sẽ đối xử họ như là mục đích, và vì thế tôi sẽ có nguy cơ đối xử với mẹ tôi như là phương tiện.

Nếu các giá trị là mơ hồ, và nếu chúng luôn luôn quá rộng đối với trường hợp xác định và cụ thể mà chúng ta vừa xét, thì chúng ta chỉ còn trông cậy vào các bản năng của chúng ta thôi. Đó là những gì mà người thanh niên này cố gắng làm ; và khi tôi gặp anh, anh nói : « Rốt cuộc, chính tình cảm là điều đáng quan tâm ; tôi phải chọn những gì thực sự thúc đẩy tôi theo một hướng nào đó. Nếu tôi cảm thấy tôi yêu mẹ đủ để hy sinh mọi cái khác cho bà – khao khát báo thù, khao khát hành động, khao khát phiêu lưu – tôi sẽ ở lại với bà. Trái lại, nếu tôi cảm thấy tình yêu của mình đối với mẹ không đủ, tôi sẽ ra đi ». Nhưng làm thế nào để xác định giá trị của một tình cảm ? Cái gì làm nên giá trị trong tình cảm của anh đối với người mẹ ? Chính xác đó là sự kiện anh đã ở lại với bà. Tôi có thể nói : « Tôi yêu một người bạn nào đó đủ để tôi có thể hy sinh cho anh ta hết số tiền nào đó ; tôi chỉ có thể nói lên được điều đó nếu tôi đã làm được điều đó. Tôi có thể nói : « Tôi yêu mẹ đủ để ở lại bên cạnh bà » nếu tôi đã ở lại bên cạnh bà. Tôi chỉ có thế xác định giá trị của sự quyến luyến này nếu rõ ràng tôi đã thực hiện một hành vi xác nhận giá trị đó và định nghĩa giá trị đó. Hoặc, nếu tôi viện đến tình cảm này để biện minh cho hành vi của mình, tôi nhận thấy mình cuốn vào một vòng tròn luẩn quẩn.

Mặt khác, Gide[13] đã nói rất đúng rằng một tình cảm được đóng vai hay một tình cảm được sống trải là hai sự việc hầu như không thể phân biệt được ; quyết định rằng tôi yêu mẹ bằng cách ở bên mẹ, hay đóng một vở kịch mà kết cục của nó là tôi ở lại bên mẹ, đấy là điều gần như giống nhau. Nói cách khác, tình cảm được xây dựng bởi những hành vi ta thực hiện, do đó tôi không thể tham khảo nó như một hướng dẫn cho các hành vi của mình. Điều muốn nói là tôi không thể tìm kiếm trong tôi cái trạng thái thực sự thúc đẩy tôi hành động, cũng không đòi hỏi ở một nền đạo đức những khái niệm cho phép tôi hành động. Ít ra, các bạn sẽ nói rằng anh ta đã đến gặp một vị giáo sư để tham vấn ý kiến của ông. Nhưng nếu các bạn tìm kiếm một lời khuyên từ một linh mục chẳng hạn, các bạn đã chọn vị linh mục ấy ; rốt cuộc, các bạn đã ít nhiều biết được những gì mà ông sẽ tư vấn cho các bạn. Nói cách khác, lựa chọn người tư vấn, đấy vẫn còn là tự mình dấn thân. Bằng chứng cho điều này là nếu các bạn là người Công giáo, các bạn sẽ nói : « Nên tham vấn một vị linh mục ». Nhưng có những vị linh mục hợp tác với quân Đức, có những vị linh mục chờ thời, có những vị linh mục kháng chiến. Lựa chọn ai ? Nếu người thanh niên kia chọn một vị linh mục kháng chiến, hay một vị linh mục hợp tác với quân Đức, thì anh đã quyết định trước về loại tư vấn mà mình sẽ nhận. Như vậy, khi đến gặp tôi, anh biết câu trả lời mà tôi sẽ đưa cho anh, và tôi chỉ có một câu trả lời để đáp lại : « Là người tự do, anh hãy chọn lựa, tức là anh hãy sáng tạo ». Không có một đạo đức tổng quát nào có thể chỉ cho anh những gì anh phải làm ; không có một cung mệnh nào trong thế giới này. Những người Công giáo sẽ trả lời : « Có những cung mệnh đấy chứ. Chúng ta hãy thừa nhận nó ». Dù thế nào đi nữa, chính bản thân tôi đã lựa chọn ý nghĩa của chúng. Lúc tôi còn bị giam, tôi có quen biết một người khá lỗi lạc của dòng Tên, ông đã vào dòng tu này theo cách sau : ông đã chịu nhiều thất bại đắng cay ; lúc còn nhỏ ông sống trong cảnh cơ cực bần hàn vì phải sớm mồ côi cha, và ông được cấp học bổng vào một trường đạo, ở đó người ta lúc nào cũng khiến ông cảm thấy rằng ông được nhận vào đây là do lòng từ thiện, nên sau này tuổi thơ ông không được tặng thưởng những vinh dự ; tiếp đến, khoảng mười tám tuổi, ông thất bại trong chuyện tình cảm ; cuối cùng, khi hai mươi hai tuổi, sự việc khá là trẻ con, nhưng là giọt nước làm tràn bình, ông đã thất bại trong khóa huấn luyện quân sự dự bị. Người thanh niên này vì thế có thể coi như mình hoàn toàn thất bại ; đấy là một cung mệnh, nhưng cung mệnh của cái gì ? Anh có thể trốn mình vào sự cay đắng hay vào sự tuyệt vọng. Nhưng anh đã rất khéo xét bản thân rằng chính do cung mệnh mà anh không được dành cho những thắng lợi thế tục, mà chỉ những thắng lợi của tôn giáo, của thánh thần, của niềm tin là có thể đạt được đối với anh. Vì thế, anh thấy ở đó một tiếng nói của Thượng đế, và anh đã vào nhà dòng. Có ai không thấy rằng sự quyết định về ý nghĩa của cung mệnh hoàn toàn chỉ do mình anh thực hiện ? Người ta có thể rút từ loạt thất bại ấy ra kết luận khác, ví dụ như tốt hơn thì anh ta nên làm thợ mộc hay làm cách mạng. Vì vậy, anh hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc giải mã cung mệnh. « Bị bỏ rơi » hàm ý rằng chúng ta tự mình lựa chọn sự tồn tại của mình. Bị bỏ rơi đồng hành cùng sự lo âu. Về « tuyệt vọng »,  ngữ thức này có một nghĩa hết sức đơn giản. Nó muốn nói rằng chúng ta đành phải trông cậy vào những gì thuộc về ý chí của chúng ta, hay vào toàn bộ những khả năng khiến cho hành động của chúng ta có thể có được.

(xem tiếp phần 2)




[1] Thuyết tịch tĩnh (Quiétisme) là một học thuyết huyền học của các nhà thần học Kitô giáo Molinos (1627-1696), Guyon (1648-1717), và được Fénelon bổ sung thêm bằng tác phẩm Maximes des Saints (Châm ngôn của các vị Thánh) (1687). Thuyết này cho rằng ta có thể dễ dàng đạt đến một trạng thái tình yêu không ngừng và hợp nhất với Thượng đế, tức trạng thái hiệp thông với tâm hồn một sự thanh thản tuyệt đối mà không cần đến sự thực hành tôn giáo hay đạo đức nào cả. Về sau, người ta sử dụng khái niệm này theo nghĩa rộng hơn để chỉ bất cứ một học thuyết hay một thứ triết lý nào chủ trương đi tìm sự hoàn thiện của tinh thần trong trạng thái trầm tư mặc tưởng có tính chất thụ động về cái hạnh phúc chân thật của con người. Trong sách này, chúng tôi dịch « quiétisme » là « thuyết tịch tĩnh », « triết lý tịch tĩnh » tùy theo văn cảnh. (ND)

[2] René Descartes (1596-1650) là nhà triết học người Pháp, được mệnh danh là cha đẻ của triết học hiện đại, vì đã đi tiên phong trong việc lật bệ nền triết học Aristote kinh viện, thúc đẩy sự phát triển của một thứ khoa học mới trên nền tảng quan sát và thực nghiệm. Vận dụng phương pháp hoài nghi, ông loại bỏ mọi tri thức bề ngoài được rút ra từ quyền uy, cảm giác và lý tính để từ đó dựng lên những nền tảng tri thức luận mới trên cơ sở của trực quan rằng ông hiện hữu khi ông đang suy tưởng. Điều này ông phát biểu rõ trong tuyên ngôn: “Cogito, ergo sum” (“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”). Ông cũng phát triển một thuyết nhị nguyên siêu hình học, và thuyết này phân biệt triệt để giữa tinh thần (bản chất của nó là suy tưởng) và vật chất (bản chất của nó là quảng tính trong ba chiều). Siêu hình học của Descrtes là siêu hình học duy lý, dựa trên sự thừa nhận các ý niệm bẩm sinh về tinh thần, vật chất và Thượng đế. (ND – theo Encyclopaedia Britannica)

[3] Émile Zola (1840-1902) là tác gia tiểu thuyết, phê bình văn học và là nhà hoạt động chính trị người Pháp, đại diện tiêu biểu cho trường phái chủ nghĩa tự nhiên trong văn học phương Tây thế kỷ XIX. Tác phẩm chủ yếu của ông là một loạt hai mươi tiểu thuyết được tập hợp dưới tên gọi là Les Rougon-Macquart. Cuốn tiểu thuyết La Terre (1887) nằm trong loạt các tác phẩm này. (ND)

[4] Karl Theodor Jaspers (1883-1969) là nhà tâm thần học và triết học người Đức, đại diện cho triết học hiện sinh Kitô giáo. Các công trình chính của ông : Philosophie (Triết học, 1932), Vernunft und Existenz (Lý tính và hiện hữu, 1935), Existenzphilosophie (Triết học hiện sinh, 1938), Einführung in die Philosophie (Dẫn luận triết học, 1950), Vernunft und Widervernunft in unserer Zeit (Lý tính và phản lý tính trong thời đại chúng ta, 1950).

[5] Gabriel Marcel (1889-1973) là nhà triết học, phê bình văn học, và là nhà soạn kich người Pháp, đại diện cho phương án Kitô giáo trong triết học hiện sinh. Các công trình chính của ông : Existence et objectivité (Hiện hữu và tính khách quan, 1914), Être et avoir (Tồn tại và sở hữu, 1935), Les Hommes contre l’humain (Những con người chống con người, 1951), L’Homme problématique (Con người nghi vấn, 1955), La dignité humaine (Phẩm giá con người, 1964).

[6] Martin Heidegger (1889-1976) là nhà triết học Đức, có vai trò rất lớn đối với sự hình thành và phát triển thuyết Hiện sinh và các thuyết khác như Thông diễn học (Gadamer) và Hậu-cấu trúc (Derrida và Foucault). Công trình chính : Sein und Zeit (Tồn tại và thời gian, 1927).

[7] Gottfried Wilhelm von Leibniz (1646-1716) là nhà triết học, toán học người Đức. Các công trình triết học chính của ông : Discours de métaphisique (Diễn văn về Siêu hình học, 1686), Nouveaux essais sur l’entendement humain (Những tiểu luận mới về giác tính của con người, 1705), Monadologie (Đơn tử luận, 1714). (ND).

[8] Denis Diderot (1713-1784) là nhà văn, nhà triết học và nhà bách khoa thư người Pháp, là người sáng lập và chủ trì bộ Encyclopédie (1750), một công trình vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của phong trào Khai minh ở Pháp. (ND).

[9] Voltaire (1694-1778), tên thật là Franois-Marie Arouet, là nhà văn, nhà triết học người Pháp, biểu tượng của thời kỳ Khai minh. Các tác phẩm chính của ông : Candide ou Optimisme (Chàng Candide hay chủ nghĩa lạc quan, 1759), Lettres philosophiques (Những lá thư triết học, 1734). (ND).

[10] Emmanuel Kant (1724-1804) là nhà triết học duy tâm siêu nghiệm Đức, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với toàn bộ triết học Tây phương hiện đại.

[11] Fedor Mikhaïlovitch Dostoïevski (1821-1881) là một đại văn hào Nga, có ảnh hưởng đến nhiều nhà văn và nhà triết học. Về mặt tư tưởng, ông cũng được coi là một trong những người góp phần quan trọng cho sự hình thành thuyết Hiện sinh. Tác phẩm chính của ông : Tội ác và hình phạt (1866), Chàng ngốc (1868), Lũ người quỷ ám (1871), Anh em nhà Karamazov (1880).(ND).

[12] Francis Ponge (1899-1988) là nhà viết tiểu luận và nhà thơ người Pháp. Tác phẩm chính của ông : Le parti pris des choses (Tiếng nói của những sự vật, 1942). Câu « Con người là tương lai của con người » được Sartre trích dẫn trên nằm trong bài viết « L'Homme et les choses”(Con người và các sự vật, Poésie 44, juillet-octobre 1944). (ND).

[13] André Paul Guillaume Gide (1869-1951) là nhà văn Pháp, đoạt giải Nobel văn học năm 1947. Tác phẩm chính của ông : L’immoraliste (Kẻ vô luân, 1902), Les caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914),  Les faux-monnayeur (Những kẻ làm bạc giả, 1926), v.v.. (ND).

 



Xây dựng bởi Ban điều hành website Doxa.com.vn.