real estate menu left
real estate menu right

Thông tin người dùng

Đăng nhập



Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay89
mod_vvisit_counterHôm qua76
mod_vvisit_counterTuần này475
mod_vvisit_counterTháng này1020
mod_vvisit_counterTất cả53094

Thứ hạng của website


Thành viên Online

Hiện có 5 khách Trực tuyến
Phê phán năng lực phán đoán [Ph. II, §61-§64] PDF. In Email

Immanuel Kant (1724-1804)

PHẦN II

PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN

MỤC ĐÍCH LUẬN

§61

VỀ TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH KHÁCH QUAN CỦA TỰ NHIÊN

Dựa theo các nguyên tắc tiên nghiệm, ta có lý do chính đáng để giả định một tính hợp mục đích chủ quan ở trong giới Tự nhiên nơi những quy luật đặc thù của nó nhằm giúp cho năng lực phán đoán của con người hiểu được Tự nhiên và có thể nối kết những kinh nghiệm đặc thù về nó thành một hệ thống.

Điều này có triển vọng là có thể có thật nơi rất nhiều sản phẩm của Tự nhiên như thể chúng được hoàn toàn thiết định dành riêng cho năng lực phán đoán của ta và, do đó, có những hình thức đặc biệt tương ứng với điều ấy, cũng như thông qua tính đa tạp và tính thống nhất của chúng, hầu như là để phục vụ cho việc tăng cường và duy trì các quan năng của tâm thức (tham gia vào việc sử dụng năng lực phán đoán này), và vì thế, ta đã gán cho chúng tên gọi là những hình thức đẹp [xem phần I].

Thế nhưng, bảo rằng những sự vật trong Tự nhiên phục vụ cho nhau với tư cách như là phương tiện với mục đích, và bản thân khả thể của chúng là có thể hiểu được chỉ cần thông qua loại hình tính nhân quả này là đủ, thì ta lại tuyệt nhiên không có căn cứ nào trong ý tưởng chung về giới Tự nhiên như là tổng thể (Inbegriff) những đối tượng của giác quan. Bởi vì, trong trường hợp trước, hình dung về sự vật là cái gì ở bên trong ta, nên hoàn toàn có thể được suy tưởng một cách tiên nghiệm như là thích ứng và hữu dụng đối với quy định hợp mục đích nội tại của các quan năng nhận thức của ta; còn những mục đích vốn không phải là của chúng ta và cũng không thuộc về giới Tự nhiên (chúng ta không hề xem Tự nhiên như là hữu thể có trí tuệ) mà lại có thể hay phải tạo nên một loại tính nhân quả đặc thù, hay chí ít là một tính hợp quy luật hoàn toàn riêng biệt, thì ta tuyệt nhiên không có cơ sở tiên nghiệm nào để giả định như thế được cả. Thêm nữa, bản thân kinh nghiệm cũng không hề chứng minh cho ta thấy về tính hiện thực của nó; vậy ắt trước đó đã phải có một sự “suy diễn tùy tiện” (Vernünftelei) để đẩy bừa khái niệm “mục đích” vào trong bản tính tự nhiên của sự vật chứ không phải rút nó ra từ những đối tượng và nhận thức thường nghiệm về chúng. | Do đó, việc làm này chỉ nhằm làm cho giới Tự nhiên trở thành dễ hiểu dựa theo sự tương tự (Analogie) với cơ sở chủ quan của việc nối kết những biểu tượng của ta hơn là để nhận thức Tự nhiên từ những căn cứ khách quan.

Ngoài ra, tính hợp mục đích khách quan – như là nguyên tắc về khả thể của những sự vật của Tự nhiên – cách rất xa với việc thiết yếu gắn liền với khái niệm về Tự nhiên, khiến chính nó lại là chỗ để người ta thích dựa vào hầu chứng minh tính bất tất của tự nhiên và hình thức của nó. Chẳng hạn, khi ta dẫn ra cấu trúc của một con chim, lỗ hổng trong xương của nó, tình trạng của đôi cánh cho việc bay, tình trạng của cái đuôi cho việc điều khiển v.v..., ta bảo rằng tất cả các điều ấy là có tính bất tất cực độ dựa theo nexus effectivus (nối kết theo nguyên nhân tác động) đơn thuần ở trong Tự nhiên, chứ không cầu cứu đến một loại nhân quả đặc thù, đó là nhân quả dựa theo các mục đích (nexus finalis). | Nói cách khác, giới Tự nhiên, xét như là “cơ chế máy móc” (Mechanismus) đơn thuần, có thể tạo ra những hình thức của nó bằng hàng ngàn cách khác mà vẫn không hề gặp được sự thống nhất nào dựa theo một nguyên tắc như thế [về tính hợp mục đích]. | Vậy, ta chỉ có thể hy vọng tìm được căn cứ mỏng manh cho điều ấy một cách tiên nghiệm là ở bên ngoài khái niệm về Tự nhiên chứ không phải ở bên trong nó.

Dầu vậy, việc phán đoán mục đích luận, chí ít là có tính nghi vấn, vẫn có quyền được tiến hành trong việc nghiên cứu về Tự nhiên, nhưng chỉ để mang Tự nhiên vào dưới những nguyên tắc của việc quan sát và tìm hiểu dựa theo sự tương tự với tính nhân quả của mục đích, chứ tuyệt nhiên không được có tham vọng dựa theo đó để giải thích Tự nhiên. Cho nên, nó [việc phán đoán mục đích luận] thuộc về năng lực phán đoán phản tư chứ không phải thuộc về năng lực phán đoán xác định. Như thế, quan niệm về những sự nối kết và về những hình thức của Tự nhiên theo các mục đích họa chăng là một nguyên tắc bổ sung nhằm đưa những hiện tượng của Tự nhiên vào dưới các quy tắc nơi đâu những định luật về nhân quả dựa theo cơ chế máy móc đơn thuần của Tự nhiên là không đủ. Tức là ta đề ra một nguyên nhân mục đích luận khi ta, đối với một đối tượng, gán tính nhân quả cho một quan niệm về đối tượng như thể nguyên nhân ấy là có thật ở trong Tự nhiên (chứ không phải ở trong ta); hay nói đúng hơn, khi ta hình dung khả thể của đối tượng dựa theo sự tương tự với một tính nhân quả như thế (tính nhân quả mà ta trải nghiệm ở trong ta), do đó, là suy tưởng về Tự nhiên một cách có “kỹ thuật” (technisch) như thể là bằng quan năng riêng biệt [của bản thân Tự nhiên]. | Còn khi ta không gán cho Tự nhiên một phương cách hành động như thế, thì tính nhân quả của nó ắt phải được hình dung như là cơ chế máy móc mù quáng. Ngược lại, nếu ta mang lại cho Tự nhiên những nguyên nhân tác động có tính ý đồ [mục đích], tức là đặt mục đích luận làm nền tảng cho nó, không đơn thuần như một nguyên tắc điều hành (regulativ) cho việc phán đoán về Tự nhiên nhằm có thể suy tưởng về Tự nhiên như là chủ thể trong những định luật đặc thù của nó mà như là một nguyên tắc cấu tạo (konstitutiv) của việc diễn dịch (Ableitung/rút ra) những sản phẩm của Tự nhiên từ những nguyên nhân của chúng thì quan niệm về một mục đích tự nhiên không còn thuộc về năng lực phán đoán phản tư nữa, mà thuộc về năng lực phán đoán xác định. | Nhưng, trong trường hợp đó, thực tế là hoàn toàn không còn thuộc về năng lực phán đoán đúng nghĩa nữa (giống như quan niệm về “tính đẹp” như là tính hợp mục đích chủ quan về hình thức trước đây) mà, với tư cách là một quan niệm thuần lý, nó đưa vào trong khoa học tự nhiên một tính nhân quả mới mẻ. | Tính nhân quả ấy thực ra chỉ do ta vay mượn từ chính bản thân ta, rồi đem gán vào cho những thực thể khác, mặc dù ta không hề mong muốn thừa nhận rằng những thực thể ấy là đồng loại với chúng ta.

 

CHƯƠNG I

PHÂN TÍCH PHÁP VỀ NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN MỤC ĐÍCH LUẬN

§62

VỀ TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH KHÁCH QUAN ĐƠN THUẦN CÓ TÍNH HÌNH THỨC ĐỂ PHÂN BIỆT VỚI TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH CÓ TÍNH CHẤT LIỆU

Mọi hình thể hình học được vẽ ra theo một nguyên tắc cho thấy một tính hợp mục đích khách quan đa dạng và thường được thán phục về tính khả dụng của chúng trong việc giải quyết nhiều vấn đề dựa theo một nguyên tắc duy nhất hoặc giải quyết cùng một vấn đề bằng vô số cách thức khác nhau. Ở đây, tính hợp mục đích rõ ràng là có tính khách quan và trí tuệ [thuộc giác tính] chứ không đơn thuần có tính chủ quan và thẩm mỹ. Lý do là vì nó diễn tả tính phù hợp của hình thể để tạo ra nhiều hình thể theo ý muốn và được nhận thức bằng lý tính. Chỉ có điều: tính hợp mục đích này không làm cho khái niệm về bản thân đối tượng có thể có được, nghĩa là, đối tượng không được xem là “có thể có được” chỉ căn cứ vào việc sử dụng này.

Nơi một hình đơn giản như hình tròn, ta thấy ở đó có cơ sở để giải quyết được một loạt những vấn đề [hay bài toán] mà nếu xét riêng từng vấn đề, ắt đòi hỏi phải có các phụ tùng lỉnh kỉnh, trong khi giải pháp hầu như tự động được mang lại như là một trong vô số những thuộc tính tuyệt vời của hình vẽ này. Chẳng hạn, nếu đòi phải cấu tạo một tam giác từ một cạnh đáy và một góc đối đỉnh, ta thấy bài toán này là bất định, nghĩa là, có thể giải đáp bằng những cách khác nhau nhiều đến vô tận. Nhưng, chỉ duy hình tròn là có thể bao hàm hết mọi giải pháp ấy như là quỹ tích cho mọi [đỉnh của] tam giác, thỏa ứng các điều kiện được cho. Hoặc, hai đường phải cắt nhau sao cho hình chữ nhật ở các đoạn phân của đường này bằng hình chữ nhật nơi các đoạn phân của đường kia tỏ ra là một bài toán khó giải quyết. Thế nhưng, mọi đường dây cung giao nhau bên trong một vòng tròn được chu vi của nó giới hạn thì lại phân chia nhau trong tỉ lệ này. Những đường cong khác lại cung cấp những đáp án hợp mục đích khác nữa cho những điều không hề được suy tưởng ở trong quy tắc cấu tạo nên chúng. Mọi mặt cắt [tiết diện] hình nón, tự chúng và khi được so sánh với cái khác, đều bổ ích trong các nguyên tắc nhằm giải quyết hàng loạt những vấn đề, tuy định nghĩa để xác định khái niệm về chúng thật là đơn giản.

Quả là một niềm vui đích thực khi chứng kiến nhiệt tâm của các nhà hình học cổ đại* đã dày công nghiên cứu các đặc tính của các đường hình học thuộc loại này và họ đã không để bị lạc lối bởi thắc mắc của những đầu óc thiển cận: kiến thức ấy có ích lợi thực tế gì không? | Chẳng hạn, họ phát hiện các đặc tính của các đường parabôn mà không hề biết đến định luật trọng trường trên trái đất vốn có thể giúp họ nghĩ tới việc áp dụng chúng vào quỹ đạo của những vật thể nặng (vì vận động của vật thể nặng có thể được xem là tương đương với đường cong của một parabôn). | Hoặc, họ tìm ra các đặc tính của hình êlíp mà không hề ước đoán rằng bất kỳ thiên thể nào cũng có trọng lượng và không biết đến định luật về lực ở các khoảng cách khác nhau từ điểm có sức hút, tức định luật giúp họ mô tả đường cong này trong sự vận động tự do. Trong khi họ làm việc một cách không có ý thức như thế cho nền khoa học của tương lai, họ tìm vui nơi một tính hợp mục đích ở trong bản chất của những sự vật mà họ đã có thể trình bày nó trong tính tất yếu một cách hoàn toàn tiên nghiệm. Platon**, bản thân là bậc thầy trong ngành khoa học này, đã ám chỉ đến một đặc tính căn nguyên của sự vật mà khi phát hiện nó, ta có thể không cần đến kinh nghiệm nào cả cũng như gợi mở năng lực của tâm thức tạo ra sự hòa điệu của mọi hữu thể từ nguyên tắc siêu cảm tính của tâm thức (thêm vào đó là các đặc tính của những con số mà tâm thức “chơi đùa” với chúng ở trong âm nhạc). | Chính nguồn cảm hứng này đã nâng ông [Platon] lên khỏi những khái niệm của kinh nghiệm để vươn đến những Ý niệm, tức những gì, đối với ông, chỉ có thể giải thích được là nhờ thông qua một cộng đồng trí tuệ [thân thuộc] với nguồn cội của mọi sự hữu. Không có gì đáng ngạc nhiên khi ông đuổi hết những người không tinh thông môn hình học ra khỏi môn hộ của ông, vì ông nghĩ rằng ông đã có thể rút ra từ trực quan thuần túy vốn có nguyên quán ở trong Tinh thần con người tất cả những gì đã được Anaxagoras* rút ra từ những đối tượng thường nghiệm và sự nối kết mục đích luận của chúng. Bởi vì, trong chính sự tất yếu của cái gì hợp mục đích và có đặc điểm là được hình thành nên như thể cố ý phục vụ cho việc sử dụng của chúng ta, nhưng đồng thời cũng có vẻ như thuộc về bản chất của sự vật một cách nguyên thủy, không liên quan gì đến việc sử dụng của ta cả mới là lý do khiến ta có sự ngưỡng mộ lớn lao đối với Tự nhiên, không phải ở bên ngoài ta cho bằng ở bên trong lý tính của riêng ta. | Đó hẳn nhiên chính là chỗ có thể tha thứ được khi sự ngưỡng mộ ấy, do sự ngộ nhận, mà dần dà đã tăng lên đến độ cuồng tín**.

Nhưng, tính hợp mục đích trí tuệ này – mặc dù rõ ràng có tính khách quan (chứ không phải có tính chủ quan như tính hợp mục đích thẩm mỹ) – chỉ đơn thuần có tính hình thức (formal) (không phải hiện thực/real) xét về mặt khả thể của nó. | Nghĩa là, nó chỉ có thể được quan niệm như là tính hợp mục đích nói chung nhưng không có bất kỳ mục đích [nhất định] nào được khẳng định như là nền tảng của nó cả, và do đó, không cần có một mục đích luận nào (Teleologie) cho nó hết. Hình tròn là một trực quan được giác tính xác định dựa theo một nguyên tắc. | Sự thống nhất của nguyên tắc này – được tôi chấp nhận một cách tùy tiện và sử dụng như là khái niệm nền tảng và được áp dụng vào mô thức của trực quan (không gian) có ở bên trong tôi đơn thuần như là biểu tượng và có tính tiên nghiệm (a priori) – làm cho tôi hiểu được sự thống nhất của nhiều quy tắc được mang lại từ sự cấu tạo nên khái niệm ấy. | Các quy tắc này có tính hợp mục đích cho nhiều ý đồ khả hữu nào đó, nhưng tính hợp mục đích ấy lại không bao hàm một mục đích hay bất kỳ một lý do nào khác. Tình hình sẽ hoàn toàn khác khi tôi gặp phải trật tự và tính quy tắc ở trong những tổng thể của những sự vật ở bên ngoài tôi và được bao bọc bên trong những ranh giới nhất định, chẳng hạn nơi một khu vườn với trật tự và tính quy tắc của cây cối, các luống hoa và đường đi dạo v.v... | Tôi không thể hy vọng suy ra chúng một cách tiên nghiệm từ việc giới hạn một không gian* do tôi tiến hành dựa theo một quy tắc tùy tiện của riêng tôi, vì trật tự và tính quy tắc này là những sự vật đang tồn tại hiện thực phải được mang lại một cách thường nghiệm thì tôi mới biết được, chứ không phải là một biểu tượng đơn thuần ở bên trong tôi và được xác định một cách tiên nghiệm dựa theo một nguyên tắc. Như thế, tính hợp mục đích (thường nghiệm) này là phụ thuộc vào khái niệm về một mục đích, và, do đó, như là tính hợp mục đích hiện thực (real).

Nhưng, nguyên nhân cho việc thán phục một tính hợp mục đích được ta nhìn thấy tận mắt – dù nằm bên trong bản chất của sự vật (trong chừng mực các khái niệm về chúng có thể được cấu tạo nên) – là hoàn toàn có thể nhận ra và cả nhận ra tính chính đáng của nó. Các quy tắc đa tạp – mà sự thống nhất của chúng (từ một nguyên tắc) gây nên sự thán phục này – đều nhìn chung là có tính tổng hợp và không được rút ra từ khái niệm của đối tượng [một cách phân tích], chẳng hạn từ khái niệm về một hình tròn, mà đòi hỏi đối tượng này phải được mang lại ở trong trực quan**. Song, qua đó, sự thống nhất này lại có vẻ như có một cơ sở của các quy tắc ở bên ngoài một cách thường nghiệm được phân biệt với năng lực biểu tượng*** của ta; vì thế, có vẻ sự tương ứng của đối tượng với nhu cầu về các quy tắc – vốn là nhu cầu riêng của giác tính – là cái gì bất tất nơi tự thân (an sich) nó, cho nên chỉ có thể có được là nhờ một mục đích hướng rõ về giác tính. Tuy nhiên, vì lẽ sự hài hòa này – bất chấp mọi tính hợp mục đích – không được nhận thức một cách thường nghiệm mà là tiên nghiệm, nên tự khắc cho ta thấy rằng không gian – mà đối tượng chỉ có thể có được là nhờ vào sự quy định của nó (thông qua trí tưởng tượng phù hợp với một khái niệm) – không phải là một đặc tính cấu tạo của những sự vật ở bên ngoài tôi mà chỉ là một phương cách biểu tượng đơn thuần ở bên trong tôi. | Do đó, trong hình thể mà tôi vẽ ra tương ứng với một khái niệm, tức vẽ ra trong phương thức biểu tượng của riêng tôi về cái gì được mang lại cho tôi từ bên ngoài, thì, bất kể nó là như thế nào trong tự thân (an sich) nó, chính tôi là người đã đưa tính hợp mục đích vào trong nó: tôi không có được sự chỉ bảo thường nghiệm nào từ đối tượng về tính hợp mục đích, và, vì thế, tôi không đòi hỏi một mục đích đặc thù nào ở trong nó mà lại ở bên ngoài tôi. Nhưng, bởi lẽ sự suy nghĩ này đòi phải có một sự sử dụng lý tính có phê phán trước đã, nên chưa thể được thực thi ngay khi ta phán đoán về đối tượng dựa theo các thuộc tính của nó, khiến cho sự phán đoán [tiền-phê phán] này không trực tiếp gợi cho tôi điều gì khác hơn là sự hợp nhất những quy tắc dị loại (heterogen) (kể cả dựa theo chính tính dị biệt của chúng) vào trong cùng một nguyên tắc. | Nguyên tắc này – vốn không đòi hỏi bất kỳ một cơ sở tiên nghiệm đặc thù nào ở bên ngoài khái niệm của tôi hay, nói chung, ở bên ngoài sự hình dung của tôi – lại được tôi nhận thức một cách tiên nghiệm như là đúng thật (wahrhalf). Ta biết rằng sự kinh ngạc (Verwunderung) là một sự chấn động của tâm thức nảy sinh từ tính không tương thích giữa một sự hình dung và quy tắc do nó mang lại với các nguyên tắc vốn là nền tảng cho nó; sự kinh ngạc này gây nên sự hoài nghi liệu ta có thấy hay phán đoán đúng đắn hay không. Còn sự thán phục (Bewunderung) lại là sự kinh ngạc trở đi trở lại mãi dù ta không còn sự hoài nghi này nữa. Cho nên, sự thán phục là một hiệu quả hoàn toàn tự nhiên về tính hợp mục đích được quan sát thấy ở trong bản chất của những sự vật (xét như những hiện tượng). | Điều này thật ra không có gì đáng chê trách cả một khi không chỉ sự thỏa thuận giữa mô thức của trực quan cảm tính (không gian) với quan năng của khái niệm (giác tính) là chưa thể giải thích nổi đối với ta mà còn do nó mở rộng tâm thức để dự cảm về sự tồn tại của cái gì nằm bên ngoài những biểu tượng cảm tính của ta, trong đó, dù ta không nhận thức được, lại có thể bắt gặp cơ sở tối hậu cho sự thỏa thuận ấy. Đúng là ta không cần thiết phải nhận thức cơ sở này nếu ta chỉ làm việc một cách tiên nghiệm với tính hợp mục đích hình thức của những biểu tượng của ta, nhưng chính sự kiện rằng ta phải nhìn rộng ra khỏi chân trời ấy đồng thời gây nên sự thán phục đối với đối tượng, vì chính đối tượng buộc ta phải có sự cảm hứng như thế.

Ta vẫn thường quen gọi những thuộc tính nói trên của những hình thể hình học hay của những con số là đẹp, căn cứ vào một tính hợp mục đích tiên nghiệm và bất ngờ nào đó của chúng đối với mọi yêu cầu nhận thức từ tính đơn giản trong việc cấu tạo nên chúng. | Chẳng hạn, ta nói về đặc tính đẹp này hay đặc tính đẹp kia của hình tròn được phát hiện bằng cách này hay cách khác. Chỉ có điều: đây không phải là một sự đánh giá thẩm mỹ nhờ đó ta thấy chúng có tính hợp mục đích, tức không phải một sự đánh giá không cần đến khái niệm làm lộ rõ một tính hợp mục đích đơn thuần chủ quan trong trò chơi tương tác tự do của các quan năng nhận thức của ta [như trong phán đoán thẩm mỹ đích thực] mà là một sự phán đoán trí tuệ dựa theo các khái niệm làm cho ta nhận thức rõ về một tính hợp mục đích khách quan, tức là, tính khả dụng cho mọi mục đích (đa tạp đến vô tận). Vì thế, đúng hơn, ta phải gọi chúng là một tính hoàn hảo tương đối của những hình thể toán học hơn là tính đẹp của chúng. Còn gọi là một tính đẹp trí tuệ thì nói chung cũng không được phép, bởi nếu thế, từ “đẹp” sẽ mất đi mọi ý nghĩa nhất định hoặc sự hài lòng trí tuệ sẽ có mọi tính ưu thắng so với sự hài lòng cảm tính. Ta có thể gọi một sự minh họa (Demonstration) về những thuộc tính như thế là đẹp, vì qua nó, giác tính với tư cách là quan năng của khái niệm và trí tưởng tượng như là quan năng trình bày chúng, tự cảm thấy được tăng cường một cách tiên nghiệm (điều này, nếu được xét kết hợp với sự chính xác do lý tính tạo ra, còn có thể gọi là sự trang nhã). | Tuy nhiên, ở đây, sự hài lòng, dù đặt cơ sở trên các khái niệm, vẫn là có tính chủ quan, trong khi sự hoàn hảo gắn liền với một sự hài lòng khách quan.

§63

VỀ TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH CỦA TỰ NHIÊN TRONG QUAN HỆ TƯƠNG QUAN [VỚI NHỮNG SỰ VẬT KHÁC]*, PHÂN BIỆT VỚI TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH NỘI TẠI

Kinh nghiệm dẫn dắt năng lực phán đoán của ta đi đến khái niệm về một tính hợp mục đích khách quan hay có tính chất liệu, tức là đi đến khái niệm về một mục đích của Tự nhiên chỉ khi ta phải phán đoán về một mối quan hệ của nguyên nhân đối với kết quả(1). Ta thấy mình có khả năng lĩnh hội mối quan hệ này như là có tính quy luật chỉ khi ta giả định ý tưởng về kết quả của tính nhân quả của nguyên nhân như là điều kiện nền tảng nằm ngay trong nguyên nhân cho khả thể của kết quả. Điều này có thể diễn ra bằng hai cách: hoặc ta có thể trực tiếp xem kết quả như là sản phẩm của một “nghệ thuật” tạo tác (Kunstprodukt) [của Tự nhiên] hoặc chỉ như là chất liệu cho “nghệ thuật” của những thực thể tự nhiên khả hữu nào khác. Tính hợp mục đích này gọi là tính hữu ích (cho con người) hoặc cũng là tính có lợi (cho bất kỳ loài thụ tạo nào khác) và chỉ đơn thuần có tính tương quan (relativ), trong khi tính hợp mục đích trước là một tính hợp mục đích nội tại của thực thể tự nhiên.

Chẳng hạn, những con sông mang theo chúng mọi loại đất có lợi cho việc sinh trưởng của cây cối, được bồi lắng khi thì ở nơi đất liền, khi thì thường ở các cửa sông. Thủy triều lên dẫn chất bùn này đến nhiều vùng ven của đất đai hay để lại trên hai bên bờ sông, và, nếu đặc biệt được bàn tay con người trợ giúp để ngăn không cho nó lại bị cuốn trôi trở lại khi thủy triều xuống thì vùng đất màu mỡ sẽ tăng thêm về diện tích và giới thực vật sẽ giành thêm được mảnh đất sinh sôi ở nơi trước đó là quê hương của loài thủy tộc. Phần lớn những việc mở rộng đất đai canh tác theo kiểu này là do bản thân Tự nhiên tạo ra và vẫn cứ tiếp diễn, dù rất chậm chạp. Câu hỏi đặt ra là: phải chăng việc này được xem như là một mục đích của Tự nhiên vì nó chứa đựng một tính hữu ích cho con người? | Ta không thể bảo nó hữu ích cho bản thân giới thực vật bởi sự sống dưới nước bị mất đi bao nhiêu thì được thêm vào bấy nhiêu cho cuộc sống trên cạn.

Hay nếu ta lấy một ví dụ khác về tính có lợi của một số sự vật tự nhiên như là phương tiện cho những vật thụ tạo khác (nếu ta tiền giả định chúng như là các mục đích), thì không có loại đất nào giúp cho cây thông phì nhiêu hơn là loại đất cát. Vậy, trước khi tự rút ra khỏi đất liền, biển cả thời xưa đã để lại rất nhiều dải cát ở các vùng phía bắc của chúng ta khiến cho vùng đất vốn vô dụng đối với mọi loại trồng trọt lại có thể trở thành những dải rừng thông bạt ngàn mà ta thường phiền trách tổ tiên chúng ta đã dại dột phá hủy chúng. | Và ta có thể đặt câu hỏi phải chăng việc lưu lại những lớp cát từ thời xa xưa này là một mục đích của Tự nhiên có lợi cho những cánh rừng thông để chúng có thể phát triển phì nhiêu trên đó? Điều rõ ràng là, nếu ta xem đó là một mục đích của Tự nhiên thì ta cũng phải xem cát như là một mục đích tương quan, còn bờ biển và việc lùi ra xa của nó là phương tiện, vì trong chuỗi những mắt xích phối kết với nhau của một sự nối kết về mục đích, mỗi một mắt xích phương tiện phải được xem là như là mục đích (tuy không phải như là mục đích tối hậu), và nguyên nhân sát cận với nó lại là phương tiện. Cũng như thế, nếu muốn bò, cừu, ngựa v.v… tồn tại thì phải có cỏ trên mặt đất; rồi lại phải có các loại cây có chất muối ở trong sa mạc nếu muốn nuôi lớn lạc đà; và hễ có các loại thú ăn cỏ đông đảo thì lại phải có chó sói, hổ và sư tử. Do đó, tính hợp mục đích khách quan dựa trên tính có lợi không phải là một tính hợp mục đích khách quan của những sự vật trong tự thân chúng, như thể cát, xét riêng phần nó, không thể hiểu như là kết quả từ nguyên nhân của nó là biển mà không đặt một mục đích vào cho biển và không xem kết quả, tức cát, như là một sản phẩm của “nghệ thuật tạo tác” [của Tự nhiên]. Nó chỉ là một tính hợp mục đích đơn thuần “tương đối” (relativ), đơn thuần bất tất đối với sự vật mà nó được quy về; và mặc dù trong các ví dụ vừa nêu, các loại cỏ khác nhau, tự bản thân chúng, phải được xem như là các sản phẩm có tổ chức [hữu cơ] của Tự nhiên, do đó, như là “có tính nghệ thuật tạo tác” (kunstreich), nhưng trong quan hệ với những súc vật dùng chúng làm thức ăn thì chỉ được xem như là nguyên liệu thô đơn thuần.

Nhưng, trên hết, dù cho con người, nhờ sự tự do của tính nhân quả của mình, thấy một số sự vật tự nhiên là có lợi cho các ý đồ của mình – các ý đồ có khi điên rồ như dùng lông chim sặc sỡ để tô điểm áo quần, dùng các loại đất hay nước ép thực vật có màu sắc để làm phấn son; hoặc thường có khi hợp lý như dùng ngựa để cưỡi, dùng bò, (hay như ở Minora) dùng cả lừa và lợn để cày –, thì ở đây, ta vẫn không thể giả định một mục đích tự nhiên tương đối. Vì lẽ, lý trí của con người biết cách mang lại cho sự vật một sự tương hợp với những ý nghĩ tùy tiện của mình, những ý tưởng mà Tự nhiên không hề “tiền định” nơi bản thân con người. Vậy, chỉ khi ta giả định rằng con người là phải sống trên mặt đất, thì những phương tiện cũng phải có mặt vì nếu không có chúng, con người không thể tồn tại như những động vật và thậm chí như những động vật có lý trí (dù ở mức độ lý trí thấp kém đến đâu), bấy giờ những sự vật tự nhiên ấy, – tỏ ra thiết yếu về phương diện này –, mới phải được xem như là những mục đích tự nhiên.

Từ đó ta dễ dàng nhận ra rằng, tính hợp mục đích ngoại tại (tính có lợi của một sự vật cho những sự vật khác) chỉ có thể được xem như là một mục đích tự nhiên ngoại tại với điều kiện: sự tồn tại của thực thể – trực tiếp hay gián tiếp được hưởng lợi – bản thân phải là một mục đích của Tự nhiên. Nhưng vì điều này không bao giờ có thể được xác định một cách trọn vẹn chỉ bằng sự quan sát đơn thuần về Tự nhiên, nên kết luận rút ra là: tính hợp mục đích tương đối, dù giả thiết là mang lại những chỉ báo về các mục đích tự nhiên, vẫn không biện minh được cho bất kỳ phán đoán mục đích luận tuyệt đối nào cả.

Trong các xứ lạnh, tuyết bảo vệ hạt giống chống lại băng giá; nó cũng giúp cho con người giao tiếp với nhau dễ dàng hơn (nhờ dụng cụ trượt tuyết). | Dân* vùng gần Bắc cực còn tìm thấy ở xứ mình những con vật giúp cho việc đi lại, giao tiếp, đó là giống tuần lộc. | Giống thú này kiếm đủ thức ăn bằng cách tự đào bới lớp rêu khô ở dưới tuyết nhưng lại dễ thuần dưỡng và sẵn sàng chịu cho con người tước đi sự tự do mà nếu muốn, chúng có thể dễ dàng bảo vệ. Đối với các giống dân khác ở cùng vùng giá lạnh ấy thì biển đầy rẫy kho dự trữ thực phẩm. | Ngoài thức ăn và áo quần do những con vật ở biển mang lại, họ còn có gỗ trôi dạt từ biển vào để làm nhà ở, có đủ chất đốt để sưởi ấm những ngôi lều của mình. Ở đó rõ ràng có một sự gặp gỡ thật kỳ diệu giữa nhiều mối quan hệ của Tự nhiên vì một mục đích chung, và mục đích này chính là cuộc sống của những giống người ở vùng Grönland, vùng Lappe, Samojede, Jakute v.v... Thế nhưng có một điều ta không thấy rõ, đó là tại sao con người, nói chung, lại phải sống ở vùng đó. Cho nên, nếu bảo rằng sở dĩ hơi nước trong không khí rơi xuống thành tuyết, biển có dòng hải lưu để đưa gỗ từ các vùng ấm hơn đến đây, và những con vật biển khổng lồ mình chứa đầy mỡ cũng có mặt là bởi vì ý tưởng có lợi cho một nhóm sinh vật người khốn khổ là nguyên nhân cơ bản tập hợp tất cả những sản vật tự nhiên này lại thì quả là một phán đoán quá táo bạo và tùy tiện. Bởi lẽ cho dù không có tính hữu ích tự nhiên này đi nữa, ta vẫn không thấy bị mất mát gì xét về phương diện tính hoàn chỉnh của những nguyên nhân tự nhiên cho việc kiến tạo nên giới Tự nhiên cả, trong khi đó, việc đòi hỏi giới Tự nhiên phải có tố chất hữu ích ấy và việc gán cho Tự nhiên một mục đích như thế đúng ra là do ta đã kiêu ngạo một cách thiếu suy nghĩ và tự đánh giá mình quá cao. | Tại sao ta không chịu thấy rằng chính sự bất hòa gay gắt nhất giữa con người với nhau có thể đã đẩy con người đến chỗ ly tán và phải phiêu bạt đến những vùng đất khắc nghiệt ấy?

§64

VỀ TÍNH CÁCH RIÊNG CÓ CỦA NHỮNG SỰ VẬT XÉT NHƯ NHỮNG MỤC ĐÍCH CỦA TỰ NHIÊN

Để nhận ra rằng một sự vật chỉ có thể có được như một mục đích, nghĩa là, buộc phải đi tìm tính nhân quả của nguồn gốc của nó không ở trong cơ chế mù quáng của Tự nhiên mà ở trong một nguyên nhân với quan năng tác động được xác định bằng các khái niệm, điều cần thiết là: hình thức của nó không thể có được chỉ dựa theo những định luật tự nhiên đơn thuần, tức không dựa theo những định luật có thể được ta nhận thức chỉ nhờ vào giác tính khi giác tính được áp dụng vào cho những đối tượng của giác quan, trái lại, cả nhận thức thường nghiệm về nó ở phương diện nguyên nhân-kết quả tiền-giả định những khái niệm của lý tính. Tính bất tất này của hình thức của nó trong mọi định luật tự nhiên thường nghiệm liên quan đến lý tính đòi hỏi một căn cứ để xem xét tính nhân quả của nó là chỉ có thể có được thông qua lý tính. | Vì lẽ, lý tính – phải nhận thức tính tất yếu của bất kỳ hình thức nào của một sản phẩm tự nhiên nhằm hiểu được cả những điều kiện cho sự ra đời của nó – không thể chấp nhận một tính tất yếu [tự nhiên] như thế ở trong hình thức đặc thù được cho. | Do đó, tính nhân quả của nguồn gốc của sự vật phải liên quan đến năng lực hành động dựa theo các mục đích (tức: một ý chí); và đối tượng, chỉ được hình dung như là có thể có được từ quan năng này, ắt chỉ được hình dung như là một mục đích.

Nếu trong một vùng hoang vu có vẻ không có người sinh sống, một ai đó thấy trên mặt cát có một hình vẽ hình học, chẳng hạn một hình lục giác đều đặn, suy nghĩ của người ấy về hình vẽ ắt sẽ quy sự thống nhất trong nguyên tắc tạo nên sự ra đời của nó vào cho lý tính, tuy một cách mơ hồ; do đó, ắt sẽ không xem lý do ra đời của hình vẽ là do cát, do gió hay do các vết chân thú quen thuộc hay do một nguyên nhân phi lý tính nào khác. | Bởi vì hình vẽ ấy chỉ có thể có được là do lý tính [con người], chứ tính ngẫu nhiên tập hợp lại để tạo ra hình vẽ ấy là có vẻ nhiều đến vô tận, nên hình vẽ có mặt không phải từ một quy luật tự nhiên, và không nguyên nhân nào trong cơ chế mù quáng của Tự nhiên có thể tạo ra nó. | Vậy chỉ có khái niệm về sự vật do một mình lý tính mang lại và lý tính dùng khái niệm ấy để so sánh với sự vật mới có thể chứa đựng nguyên nhân cho một kết quả như thế. | Như thế, hình vẽ được xem như là một mục đích nhưng như là một sản phẩm của “nghệ thuật tác tạo” (Kunst) chứ không phải như là một mục đích tự nhiên (vestigum hominis video)*.

Nhưng, sau khi ta nhận thức một sự vật như là sản phẩm tự nhiên, rồi lại muốn phán đoán về nó như một mục đích – tức như là mục đích tự nhiên – thì, để không có mâu thuẫn, ta cần thêm nhiều điều khác nữa. Tôi tạm thời xin nói thế này: một sự vật tồn tại như là mục đích tự nhiên khi nó vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của chính nó (mặc dù theo ý nghĩa hai mặt). | Bởi vì ở đây có một tính nhân quả không thể được kết hợp với khái niệm đơn thuần về một Tự nhiên mà không gắn vào cho nó một mục đích; điều này tuy chắc chắn có thể được suy tưởng không có mâu thuẫn nhưng lại không thể nào thấu hiểu được. Trước hết, chúng ta hãy thử làm rõ sự quy định của ý tưởng này về một mục đích tự nhiên bằng một ví dụ trước khi phân tích nó một cách đầy đủ.

Thứ nhất, một cái cây tạo ra một cây khác theo một định luật tự nhiên đã biết. Nhưng, cái cây được nó tạo ra cũng thuộc về cùng một loài; và, như thế, nó tạo ra chính bản thân nó xét về mặt loài. | Một mặt, với tư cách là kết quả, nó được tạo ra chính mình một cách liên tục; mặt khác, với tư cách là nguyên nhân, nó liên tục tạo ra chính mình và, như thế, bảo tồn chính mình về mặt loài.

Thứ hai, một cái cây tự tạo ra chính mình với tư cách là cá thể. Loại hình kết quả này được ta gọi là sự tăng trưởng (Wachstum); nhưng hiểu theo nghĩa hoàn toàn khác với bất kỳ sự gia tăng nào dựa theo các quy luật cơ giới, và, vì thế cũng được mệnh danh dưới một tên gọi khác là sự sinh sản (Zeugung). Phần vật chất được cây thêm vào cho chính mình được nó xử lý trước đó thành một chất lượng riêng biệt mà cơ chế tự nhiên mù quáng bên ngoài nó không thể cung cấp được, và tiếp tục tự kiến tạo chính mình nhờ vào một chất liệu, xét về mặt kết cấu, là sản phẩm của riêng nó. Nhìn vào các thành phần vật chất đến từ giới Tự nhiên bên ngoài, quả chúng cần được xem chỉ như là sản phẩm của sự chiết xuất mà thôi, nhưng trong sự tách rời và tái kết hợp chất liệu thô này, ta thấy rõ một sự độc đáo trong năng lực phân cắt và kiến tạo của loại tồn tại tự nhiên [thực vật] này. | Năng lực ấy vượt xa vô hạn so với mọi nghệ thuật tạo tác, nếu muốn thử tái tạo những sản phẩm thực vật ấy từ những yếu tố có được khi tách rời chúng ra hay từ nguồn thực phẩm mà Tự nhiên cung cấp cho chúng.

Thứ ba, mỗi bộ phận của một cái cây sản sinh chính mình theo kiểu sự bảo tồn bất kỳ bộ phận nào cũng phụ thuộc hỗ tương vào sự bảo tồn những bộ phận còn lại. Một chồi của cây này được ghép vào cành của một cây khác tạo nên một cái cây thuộc loại riêng của mình nơi một cành xa lạ, cũng giống như một cái mầm được ghép vào một cái gốc khác. Vì thế, ta có thể xem mỗi cành hay mỗi lá của cùng một cái cây chỉ đơn thuần như được ghép vào cây ấy, và giống như một cái cây độc lập được ghép vào cây kia và sống nhờ vào cây kia theo kiểu ký sinh. Nhưng đồng thời, trong khi lá là sản phẩm của cây thì, đến lượt chúng, lá cũng hỗ trợ cho cây, bởi nếu cứ liên tục vặt lá, cây sẽ chết, và sự sinh trưởng của cây phụ thuộc vào hoạt động của lá đối với thân cây. Sự tự-cứu của Tự nhiên diễn ra trong trường hợp bị tổn thương nơi giới thực vật khi việc thiếu một bộ phận cần thiết cho sự bảo tồn của các bộ phận bên cạnh sẽ được các bộ phận còn lại cung ứng; và những khuyết tật hay dị dạng trong sự tăng trưởng của một số bộ phận do những thiếu sót hay trở ngại nhất thời sẽ tự kiến tạo bằng một kiểu mới để duy trì những gì đang tồn tại và vì thế mà tạo nên một sản vật bất thường, đột biến. | Đó là tôi chỉ nhân tiện nhắc qua, mặc dù chúng thuộc về những đặc tính kỳ diệu nhất của những sản vật hữu cơ, có tổ chức.

(còn tiếp)

Bùi Văn Nam Sơn dịch

Nguồn: Immanuel Kant. Phê phán năng lực phán đoán (Mỹ học và Mục đích luận). Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Hà  Nội: Nxb. Tri Thức, 2006.

 

 



* Ám chỉ Archimed, Euklid và Pythagore. Xem thêm Kant, Toàn tập Viện Hàn Lâm (AA): XXIV 379, 623 và XXIV 902-903.

** Platon: xem Kant, Toàn tập hàn lâm (AA): XXIV 902-903.

* Anaxagoras: xem Kant, AA: XXVIII 1144

** Schwärmerei: xem lại B125.

* Không gian (Raum). Nguyên bản của NXB Meiner (tr. 267) rõ ràng in sai thành “Baum” (cây cối). (N.D).

** Phân tích-tổng hợp; đối tượng của toán học phải được cấu tạo từ trực quan: xem Kant, Phê phán Lý tính thuần túy, B742 và tiếp. (N.D).

*** tức khi chưa tiến hành sự phê phán siêu nghiệm về các quan năng nhận thức như đã được trình bày trong phần “Các yếu tố cơ bản của nhận thức” trong quyển Phê phán lý tính thuần túy.

* relative Zweckmäßigkeit.

(1) Vì lẽ trong toán học thuần túy, ta không bàn về sự hiện hữu thực sự (Existenz) mà chỉ về khả thể của những sự vật, tức về một trực quan tương ứng với khái niệm về chúng, do đó, tuyệt nhiên không thể bàn về nguyên nhân và kết quả, cho nên mọi tính hợp mục đích được ghi nhận ở đây [trong toán học thuần túy] chỉ được xem xét như đơn thuần có tính mô thức (formal) chứ không bao giờ như là mục đích [của] Tự nhiên (Naturzweck). (Chú thích của tác giả).

* Lappländer.

* Latinh: “thấy rõ dấu vết của con người”. (N.D).

 



Xây dựng bởi Ban điều hành website Doxa.com.vn.